Chuyên đào tạo tiếng Anh cho trẻ em từ 3 đến 12 tuổi

dạy tiếng anh khóa học lịch khai giảng skc tiếng anh tại hà nội tiếng anh giao tiếp đào tạo tiếng anh tiếng anh qua hình ảnh kinh nghiệm học tiếng anh tiếng anh trẻ em tiếng anh thiếu nhi khóa học tiếng anh câu lạc bộ tiếng anh 30 phút tiếng Anh trung tâm ngoại ngữ video học tiếng anh trung tâm anh ngữ mần non trẻ em học tiếng anh smart kids centre trung tâm tiếng anh tiểu học trung tâm tiếng anh cho trẻ em bài tập tiếng anh

Trung tâm tiếng Anh trẻ em Smart Kids Centre

Chuyên đào tạo tiếng Anh cho trẻ em từ 3 đến 12 tuổi

Trung tâm tiếng Anh

Chuyên đào tạo tiếng Anh với giáo viên bản ngữ

Trung tâm tiếng Anh cho trẻ em tại Hà Nội

Chính thức thành lập vào ngày 1.7.2007 tại Hà Nội với sứ mệnh trở thành tổ chức giáo dục tiếng Anh trẻ em số nhất tại Việt Nam.

Môi trường học tập và phát triển tiếng Anh tốt cho trẻ em

Hệ thống giáo trình tiêu chuẩn, các thiết bị học tập tiếng Anh hiệu quả.

Lớp học thân thiện cho các bé học tập

Phát triển tối đa 8 khả năng học tập của bé, nghe, nói, đọc, viết...

Với đội ngũ giáo viên bản ngữ và giáo viên trợ giảng Việt Nam

Đội ngũ giảng viên bản ngữ các nước Anh,Mỹ,Canada.Trợ giảng là giảng viên của các trường ĐH Ngoại ngữ, ĐHQG Hà Nội...

Hiển thị các bài đăng có nhãn trung tâm tiếng anh trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trung tâm tiếng anh trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng

4 tháng 6, 2013

Hướng dẫn cách sử dụng câu gián tiếp trong tiếng anh giao tiếp


Khi muốn thuật lại lời người khác nói chúng ta sử dụng câu trực tiếp và gián tiếp hay còn gọi là câu tường thuật. Hôm nay, Trung tâm tiếng Anh trẻ em Smart kids centre sẽ giới thiệu chi tiết hơn cho các bạn về câu tường thuật trong tiếng anh giao tiếp, cách sử dụng và các hình thức đa dạng của câu tường thuật

Câu tường thuật (Reported Speech) 
a/ Định nghĩa : Câu tường thuật (hay còn gọi là câu nói gián tiếp) là cách nói mà ta dùng để tường thuật hay kể lại cho ai đó nghe những gì người khác nói hoặc đang nói.
b/ Cách chuyển từ câu nói trực tiếp sang câu tường thuật : Tùy theo 4 dạng câu nói mà người ta có cách chuyển khác nhau.
+ Trường hợp câu nói trực tiếp là câu phát biểu (Statements) 
CÁCH CHUYỂN :
Lặp lại động từ giới thiệu SAY hoặc chuyển sang TELL, nếu SAY có thể bổ túc từ gián tiếp ( dạng SAY TO + Object )
 Dùng liên từ THAT thay cho dấu hai chấm ( , sau đó bỏ dấu ngoặc kép 
 Chuyển đại từ nhân xưng và tính từ sở hữu , nếu cần thiết tùy theo nghĩa của câu 
Ví dụ : 
I ---> He/She ; me---> his , her
Nếu động từ giới thiệu tỏn câu nói trực tiếp ở dạng quá khứ thì khi chuyển sang câu tường thuật , động tù trong câu tường thuật được thay đổi theo quy luật sau :
CÁCH NÓI TRỰC TIẾP 
1.Hiện tại đơn (Simple Present) 
2.Hiện tại tiếp diễn (Present Continuous) 
3.Hiện tại hoàn thành (Present Perfect)
4.Quá khứ đơn ( Simple Past)
5.Quá khứ tiếp diễn (Past Continuous)
6.Tương lai đơn (Simple Future)
7.Tương lai hoàn thành (Future Perfect)
8.Điều kiện ở hiện tại ( Present Conditional)
CÂU TƯỜNG THUẬT
1.Quá khứ đơn (Simple Past) 
2.Quá khứ tiếp diễn (Past Continuous)
3.Quá khứ hoàn thành (Past Perfect) 
4.Quá khứ hoàn thành (Past Perfect) 
5.Quá khứ hoàn thành tiếp diễn ( Past perfect Continuous)
6.Tương lai ở quá khứ ( Future in the past : Would + V)
7. Điều kiện hoàn thành ( Perfect Conditional )
8. Điều kiện hoàn thành ( Perfect Conditional )
Tùy theo số mà chuyển đổi : 1--1 , 2---2 ,......
* Lưu ý : Quá khứ hoàn thành (Past Perfect ) , và điều kiện hoàn thành ( Perfect Conditional) vẫn ko đổi.
Chuyển trạng từ chỉ nơi chốn và thời gian theo quy luật

This ----> That
These ---- > Those
Now ----> Then
Here ----> There 
Today ----> That day
Tomorrow ---> The next day / The following day / The day after 
Yesterday ----> The day before / The previous day 
Next week , month year ----> The following week / month / Year
Last night / week / month /year -----> The night/week / year before hoặc the previous night/ week / month / year
Tonight ----> that night
Ago ----> earlier / Before ( Ex : 2 days ago ----> 2 days before / earlier )
- Các động từ của mệnh đề chính trong câu tường thuật là : SAY , TELL , ANNOUNCE , INFORM , DECLARE , ASURE , REMARK , DENY.....
Ex : He said : "I want to go to see An tomorrow"
=> he said that he wanted to go to see An the next day
( Anh ấy nói rằng anh ta muốn đi thăm An ngày hôm sau )
+ Chú ý :
Sau động từ TELL bao giờ cũng phải có 1 bổ túc từ trực tiếp ( TELL + Object)
Ex : An said to me : " I will buy a car"
=> An told me that he would buy a new car
( An bảo tôi rằng anh ta muốn mua 1 chiếc xe mới )

- Trong câu tường thuật , THAT có thể được bỏ đi 
Ex : She said : "I have worked here for one year"
=> She said ( that ) she had worked there for one year 
( Cô ấy nói cô ấy đã làm việc ở đó được 1 năm )
Thường thì dùng THAT sẽ hay hơn
- Trong câu tường thuật , động từ khiếm khuyết MUST thường đc chuyển thành HAD TO , NEEDN'T chuyển thành DID NOT HAVE TO , nhưng MÚT , SHOULD , SHOULDN'T khi chỉ sự cấm đoán , lời khuên vẫn được giữ nguyên
VD : 1. His father said to him : "You must study harder" 
=> Hisfather told him that he had to study harder
( Bố cậu ta bảo rằng cậu ta phải học chăm hơn )
2. Hoa said :"You needn't water the flowers because it rained last night" 
=> Hoa said that he didn't have to water the flowers because it had rained the day before
(Hoa nói rằng anh ấy ko cần phải tối hoa vì đã mưa vào tối hôm trước)
3. The doctor said to Nam : "You should stay in bed"
=> The doctor told Nam that he should stay in bed 
( Vị bác sĩ bảo Nam rằng cậu ta nên ở trên giường)
-  Nếu câu nói trực tiếp diễn tả 1 sự thật hiển nhiên thì khi chuyển sang câu tường thuật động từ vẫn ko đổi .
Ex : The professor said : "The moon revolves around the earth"
=> The professor said that the moon revolves around the earth
( Vị giáo sư nói rằng mặt trăng quay xung quanh trái đất)

- Nếu động từ giới thiệu trong câu nói trực tiếp ở thì hiện tại hoặc tương lai ( SAY/WILL SAY , HAVE SAID ...) thì động từ trong câu tường thuật và các trạng từ chỉ thời gian và nơi chốn khi được đổi sang vẫn ko đổi 
Ex : She says : "The train will leave here in 5 minutes"
=> She says that the train will leave there in 5 minutes

- Vài cách chuyển đại từ nhân xưng và tính từ sỡ hữu từ câu nói trực tiếp sang câu tường thuật .
CÂU NÓI TRỰC TIẾP
I 
We
Me / You
Us
Mine
Ours
My
Our 
Myself

CÂU NÓI TƯỜNG THUẬT
He /She 
They 
Him /Her
Them
His / Hers
Theirs
His / Her
Their
Himself / herself
+ Trường hợp câu nói trực tiếp là câu hỏi (Questions) :
Cách chuyển 
- Đổi động từ giói thiệu SAY thành ASK ( hoặc WONDER , WANT TO KNOW...)sau đó thêm bổ túc từ sau động từ ASK nếu cần thiết ( EX : Ask me , ask Tom...)
- Bỏ dấu 2 chấm , dấu ngoặc kép và dấu chấm hỏi .
- Lặp lại từ nghi vấn ( WHO , WHEN WHAT...) của câu nói trực tiếp . Nếu câu nói trực tiếp ko có từ nghi vấn thì đặt IF hay WHETHER trước chủ ngữ của câu nói được tường thuật lại .
- Chuyển đại từ nhân xưng và đại từ sỡ hữu cho phù hợp với ý nghĩa của câu , nếu cần thiết.
- Đặt chủ ngữ trước động từ trong câu phát biểu .
- Nếu động từ trong câu nói trực tiếp ở dạng quá khứ thì chuyển thì của động từ theo quy luật như trường hợp câu phát biểu .
- Chuyển trạng từ chỉ thời gian và nơi chốn theo quy luật theo trường hợp câu phát biểu .
Ex :
1. Dung said :"What did you do yesterday ?"
= > Dung asked me what I had done the day before
( Dung hỏi tôi đã làm gì vào ngày hôm trước )
2. Dung asked him : "Do you like swimming ?"
= > Dung asked him if he liked swimming .


+ TRƯỜNG HỢP CÂU NÓI TRỰC TIẾP LÀ CÂU CẦU KHIẾN (COMMAND)
*Cách chuyển 
- Đổi động từ giới thiệu sang TELL (hoặc AsK , ODER , BEG...) tùy theo ý nghĩa của câu ..
Sau đó thêm bổ túc từ vào sau TELL (hoặc AsK , ODER , BEG...) . 
Ex : Ask him , Order the soldier, tell me .
Bỏ dấu 2 chấm , dấu ngoặc kép , dấu chấm than và từ PLEASE ( nếu có)
-  Nếu câu cầu khiến ở thể khẳng định , ta đổi động từ sang nguyên mẫu có TO theo mẫu :
TELL / ASK / ...+ PRONOUN / NOUN / + TO -INFINITIVE 
-  Nếu câu cầu khiến ở thể khẳng định , ta đổi động từ theo mẫu 
TELL / ASK / ...+ PRONOUN / NOUN / + NOT +TO -INFINITIVE 
-  Đổi đại từ nhân xưng , tính từ sỡ hữu , trạng từ chỉ thời gian và nơi chốn như các trường hợp trước nếu cần thiết .
* Ghi chú :
+ Pronoun : đại từ 
+ Noun : danh từ 
+To -infinitive : động từ nguyên mẫu có TO ( Ex : to do , to complain )
Ex :
1/ She said : "Close the door and go away !"
= > She told me to close the door and go away.
( Cô ấy bảo tôi đóng cửa lại và đi chỗ khác)
2/ Nam said to his brother : "Don't turn of the radio"
= > Nam told his brother not to turn of the radio 
( Nam bảo em trai cậu ấy đừng tắt radio )
3/ The commandor said to his soldier : "Shoot !"
The commandor ordered his soldier to shoot.



Tưng bừng lễ hội Làng Việt cho các bé Smart kids centre

Tưng bừng lễ hội Làng Việt

Ngày 2/6. Trung tâm tiếng Anh trẻ em Smart kids centre đã tổ chức thành công lễ hội Làng Việt cho các bé học viên tại trung tâm nhân ngày quốc tế thiếu nhi 1/6. Trong không khí hân hoan, Các bé lần đầu tiên đặt chân lên khi sinh thái Làng việt đều vô cùng thích thú với cảnh quan thiên nhiên và các vật dụng làng quê truyền thống nơi đây

 Những niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt các bậc phụ huynh, các thầy cô khi được nhìn thấy những nụ cười bé thơ giòn tan như xua đi những hối hả, khó khăn của công việc thường nhật, trở lại với một thế giới yên bình của đồng quê và tiếng cười của con trẻ. Cái nóng của tiết trời oi bức như được trung hòa trong những  ánh mắt mải mê với cánh diều căng gió, được làm từ chính đôi tay của các bé Smart kids centre.

Các vị phụ huynh như được trẻ lại với các trò chơi dân gian, thứ  mà tưởng chừng họ sẽ không còn được chơi ở cái tuổi này nữa. Với lễ hội Làng Việt lần này, các phụ huynh như cầm trên tay những tấm vé đi tuổi thơ, cùng làm “ Trâu bằng lá đa”, “ Làm Diều giấy”, “ Đi cà kheo”, “nhảy bao bố” ,“ bắt cá trong ao”,” Vào mê cung”….với những đứa con thân yêu của mình

Một số hình ảnh của buổi dã ngoại : Làng Việt
 Các con đang thích thú khám phá vườn quê

 
“Ngày xưa bố chơi Cà kheo giỏi lắm ”

Cùng làm Diều với chúng tớ nhé !

26 tháng 4, 2013

Học lỏm cách người nhật dạy con thông minh


Người Nhật có những bí quyết dạy con rất hay. Hãy cùng trung tâm tiếng anh trẻ em SMART KIDS CENTRE khám phá những nét đặc trưng trong cách dạy con của cha mẹ Nhật nhé!

Trẻ con Nhật chăm chỉ học tập, khả năng quyết đoán cao và  rất gắn bó với gia đình với sự lễ phép, quy củ trong khuôn phép. Sự thành công về kinh tế, kỹ thuật cũng như xã hội phát triển của Nhật đã cho nhân loại nhiều bài học quý giá. Trong đó, sự thành công trong giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ góp phần quan trọng. Mời các gia đình cùng tham khảo và khám phá những nét đặc trưng trong cách dạy con của cha mẹ Nhật.

1. Chú trọng chuyện cổ tích


Cũng như các bậc cha mẹ khác thường kể cho bé nghe những câu chuyện cổ tích và thần tiên. Tuy nhiên, người Nhật tiến thêm một bước nữa khi họ tin rằng chính thế giới thần thoại cùng những điều lạ kỳ và không tưởng ấy chính là chất liệu và niềm cảm hứng cho sự sáng tạo vô biên của đứa trẻ sau này. Hãy thử nhìn vào cuộc sống thường ngày và ta sẽ thấy: trong truyện có thảm thần và ngoài đời chúng ta có máy bay, trong truyện chỉ cần phẩy tay là cửa mở và ngoài đời chúng ta có hệ thống cửa cảm biến,...

2. Không quy chụp, áp đặt


Đặc biệt, cha mẹ Nhật ít khi quy kết con trẻ như “Con thật lười biếng” hoặc “Sao con lì lợm thế”, bởi họ hiểu tâm lý của trẻ con “Khi bạn mắng con bạn là đồ con lợn 10 lần, chúng sẽ kêu ụt ịt vào lần thứ 11”. Khi dùng những lời lẽ tiêu cực và quy chụp để mắng dạy con, trẻ con sẽ bị giáo dục đúng theo lối bị phủ nhận đó.

Khen con, khen hành vi cụ thể: Nếu chỉ khen “Con tôi giỏi quá” thì sẽ biến trẻ thành tự phụ. Không chỉ là khen trẻ mà cha mẹ Nhật thường khen hành vi mà trẻ đã làm như “Con mẹ tự xúc cơm thật cừ” hay “Ai mà tự thay quần áo giỏi thế nhỉ!”. Khi trẻ được khen về một hành động cụ thể nào đó, chúng sẽ cố gắng làm tốt việc đó ở những lần kế tiếp để lại được cha mẹ hài lòng và khen ngợi.

Cha mẹ Nhật không ngại khen con nhưng họ khen rất cụ thể như “Con đọc chữ này đúng và giỏi quá!”

3. Hầu như không cho con xem TV

Ngoài việc xem TV tốn thời gian và có thể khiến trẻ bị nghiện, cha mẹ Nhật còn ý thức rất rõ việc nếu cho con xem tivi quá sớm và quá nhiều thì cấu trúc của đại não sẽ bị phá vỡ; từ tivi phát ra dòng âm cực sản sinh ra từ điện áp 20,000 volts, gây ảnh hưởng không tốt đến thuỳ não trước (phần tạo ra năng lực suy nghĩ) của con người. Các nhà khoa học Nhật Bản cũng cảnh báo rằng sự tích tụ này trong vài chục năm sau sẽ có thể gây ra bệnh máu trắng cũng như làm tăng chiều hướng của hiện tượng tự kỷ.

“Tắt TV, Bật ý tưởng” là châm ngôn truyền miệng của phụ huynh Nhật

4. Dạy chữ từ sớm

Theo các công trình nghiên cứu của Nhật, việc dạy chữ có thể làm thay đổi chức năng, và dẫn đến cấu tạo não thay đổi theo. Hiện tượng này, trẻ càng nhỏ càng dễ. Khi trẻ nhỏ nhớ chữ, sẽ có được tốt chất cao phi thường. Các bậc cha mẹ ở Nhật quán triệt dạy chữ cho con ngay từ rất sớm do bởi khi mới sinh ra, trẻ chỉ là một động vật nhỏ, nhưng khi hệ tín hiệu ngôn ngữ và học chữ bắt đầu hoạt động, trẻ trở thành con của loài người. Và họ hiểu rằng để hệ tín hiệu ngôn ngữ này hoạt động tốt, trẻ càng học gần với thời điểm mới sinh ra càng có hiệu quả cao.

Theo các công trình nghiên cứu của Nhật, việc dạy chữ có thể làm thay đổi chức năng, và dẫn đến cấu tạo não thay đổi theo.

5. Kiên nhẫn lặp đi lặp lại

Khác với nhiều người có thể bực mình khi trẻ thơ thường hỏi đi hỏi lại một điều ngô nghê, cha mẹ Nhật không ngại giải thích nhiều lần cho con họ ở một vấn đề. Theo họ, để đứa trẻ có thể thành thạo 1 việc thì phải cần ít nhất là 3 tháng. Chẳng hạn, khi trẻ đã nhớ được chữ “a i u e o” thì phải mất ít nhất 3 tháng trẻ mới có thể đọc được chúng thành thạo.

6. Luyện trí nhớ

Không phải ngẫu nhiên mà Nhật Bản có rất nhiều trò chơi trí tuệ phục vụ cho việc luyện trí nhớ cho cả trẻ nhỏ và người lớn. Người Nhật quan niệm, “Người thông minh là người nhớ nhiều hơn người khác và biết cách áp dụng những điều ghi nhớ đó hợp lý”. Do đó theo họ, trí thông minh là thứ có thể luyện tập và có được chứ không phải thuộc về khả năng bẩm sinh.

Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em Nhật đã được tiếp xúc với các trò chơi trí tuệ luyện trí nhớ

7. Vận động đầy đủ

Không chỉ tập trung phát triển trí tuệ, các cha mẹ Nhật cũng rất chú trọng việc rèn luyện thể chất. Ngay từ khi bé chào đời, cha mẹ đã lưu ý giáo dục về tất cả các mặt sức khoẻ, vận động, đạo lý, kỷ luật, tình cảm. Đối với trẻ lên 2, cha mẹ đã cho trẻ đi bộ đều đặn hàng ngày và họ chia nhỏ khỏang cách tập luyện thành những đọan ngắn 10m, 20m mỗi ngày.

“Một trí tuệ minh mẫn trong cơ thể cường tráng”, cha mẹ Nhật hiểu rõ điều này.

8. Thói quen tra cứu, tìm tòi


Cha mẹ đã biết hướng dẫn con mình sử dụng loại từ điển dễ tra cứu dành cho trẻ em. Trẻ dùng từ điển đó để tra nghĩa của từ, hay cách viết đúng chữ Hán. Chẳng hạn, khi biết địa chỉ rồi nhưng được người khác đưa lên xe dẫn đi thì chúng ta cảm thấy rất khó nhớ đường. Nhưng nếu tự dùng bản đồ, rồi vừa đi vừa hỏi đường thì chúng ta sẽ nhớ rất lâu. Cũng tương tự như thế, trẻ con sẽ dễ tiếp nhận kiến thức nếu chúng tự tìm, mất công để tra cứu hơn là được cha mẹ dạy cho một cách thụ động. Ngay cả đối với những trẻ Nhật khó dạy theo cách đơn điệu, thì bằng cách này chúng cũng có thể học được một cách chính xác mà không hề cảm thấy nhàm chán.

Với những phương pháp dạy con tinh tế như thế, ắt hẳn người Nhật cũng sẽ giúp chúng ta có thêm nhiều điều bổ ích để áp dụng cho chính gia đình của mình.

24 tháng 4, 2013

Phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ em


Ngay từ khi sinh ra, con người đã có nhu cầu  liên lạc, giao tiếp và ứng xử với môi trường và những người xung quanh để phát triển và tồn tại.
Vì vậy kỹ năng giao tiếp được xem là một trong những kiến thức nền tảng của con người. Sau đây là những kinh nghiệm phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhỏ do trung tâm tiếng anh trẻ em SMART KIDS CENTRE sưu tầm
I. SỰ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
Không phải đợi đến khi trẻ đi học, thì cha mẹ mới quan tâm đến việc dạy trẻ kỹ năng giao tiếp, mà ngay từ nhỏ đã phải có những quan tâm và tác động đến viêc phát triển kỹ năng cần thiết này, mà một trong những mối quan hệ chính yếu chính là kỹ năng giao tiếp giữa mẹ và con.
1. Kỹ năng giao tiếp của trẻ qua các lứa tuổi
Ngay từ khi bé chào đời, thì giao tiếp đã là một kỹ năng quan trọng giúp bé tồn tại và phát triển, bé giao tiếp qua ánh mắt, qua các cử động của tay chân và đặc biệt là qua tiếng khóc… Một người mẹ có sự quan tâm và gần gũi con chắc chắn sẽ hiểu khi nào bé khóc vì đói, khi nào bé khóc vì đau, vì sợ và cả vì nhõng nhẽo nữa !
Khi biết nói ở lứa tuổi lên 3, thì bé bắt đầu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, đồng thời với khả năng bộc lộ cảm xúc thông qua giao tiếp phi ngôn ngữ qua ánh mắt với những nét mặt và các dấu hiệu của cơ thể, nếu được đáp ứng đầy đủ sẽ giúp cho bé hình thành sự tự tin vào bản thân cũng như xây dựng  những mối tương giao với mọi người xung quanh.
Vì thế kỹ năng giao tiếp được xem là một năng lực cần thiết cho trẻ mở rộng quan hệ từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Đây là một kỹ năng phức tạp bao gồm nhiều yếu tố  khác nhau, vì thế ngoài năng lực nội tại của trẻ,  phụ huynh cũng cần quan tâm  giúp trẻ phát triển về kỹ năng giao tiếp bằng cách kích thích nhiều giác quan, mà chủ yếu là nghe – nhìn và đụng chạm.
2. Các công cụ giao tiếp:
Mắt là cơ quan tiếp nhận các thông tin từ bên ngoài, phụ huynh cần có biện pháp bảo vệ mắt của trẻ, không cho trẻ tiếp xúc nhiều và lâu với những nguồn ánh sáng chói chang. Đặc biệt là với màn hình vi tính và TV sẽ gây ra những tác động xấu về cả thị lực lẫn sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nhất là trong lúc ăn. Mặc dù đây là một trong những thói quen của nhiều bậc cha mẹ vì cho rằng trẻ thích như vậy, thu hút được sự tập trung nên trẻ sẽ ngồi yên để ăn. Nhưng thực tế là trẻ bị “chìm đắm” trong giòng thác âm thanh và hình ảnh khiến trẻ dần dần trở nên thụ động .
Tai cũng là một cơ quan cần thiết để giúp trẻ nhận ra các thông tin, tiếp nhận ý nghĩa của từ ngữ để hình thành ngôn ngữ, nếu trẻ phải sống trong một môi trường quá yên lặng, không có tiếng nói của những người xung quanh hay ngược lại quá ồn ào, hỗn độn với nhiều tạp âm, trẻ cũng không thể phát triển về ngôn ngữ bằng lời nói của mình.
Sự cảm nhận qua xúc giác trên da và bằng sự cầm nắm cũng giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp, chính vì vậy mà trẻ sơ sinh rất cần được sự ôm ấp, vuốt ve và được tạo cơ hội cầm nắm các đồ vật với những tính chất khác nhau từ cứng, mềm cho đến láng trơn hay sần sùi… Trẻ được tiếp xúc nhiều qua sự cầm nắm và đụng chạm sẽ phát triển tốt hệ thống thần kinh phản xạ, trẻ sẽ trở nên linh hoạt và thoải mái hơn.
3. Ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp:
Ngôn ngữ được xem là công cụ chính trong việc giao tiếp, từ khi sinh ra cho đến khi bập bẹ những tiếng nói đầu tiên thì trẻ giao tiếp bằng tiếng khóc, và cử chỉ, ánh mắt… Khi trẻ bắt đầu nói và ngôn ngữ sẽ được phát triển rất nhanh từ khi trẻ trên 12 tháng, cho đến khi trẻ được 5 tuổi thì ngôn ngữ đã hoàn thiện, trẻ có đủ vốn từ ( khoảng 2000 từ ) để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Việc giúp trẻ phát triển khả năng ngôn ngữ thông qua việc trò chuyện với trẻ, cho trẻ chơi những trò chơi phát triển ngôn ngữ, đọc sách hay kể chuyện cho trẻ nghe là những hoạt động  cần thiết để giúp trẻ đạt được sự giao tiếp tốt nhất.
Tuy nhiên, không phải cứ nói nhiều, nói hoài với trẻ là tốt, mà nhiều khi một bà mẹ nói chuyện quá nhiều với con, nói những câu dài và trả lời luôn cho con khiến trẻ chỉ biết gật gù , lại là một trong những nguyên nhân gây ra sự thụ động hay chậm nói cho trẻ.
II. KỸ NĂNG GIAO TIẾP XÃ HỘI
Kỹ năng giao tiếp có một vai trò quan trọng trong việc phát triển về tâm sinh lý cho trẻ. Không có một sự lo lắng và khó chịu nào lớn hơn là tình trạng không hiểu được nhau ! Trẻ không hiểu người lớn muốn gì ở mình và người lớn cũng không hiểu trẻ cần điều gì nếu như không xây dựng được một mối quan hệ tốt thông qua những kỹ năng giao tiếp hiệu quả.
1. Hình thành sự tương tác hiệu quả :
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất,  trong giai đoạn ngôn ngữ chưa phát triển, thì hình ảnh lại có một vai trò to lớn trong việc giúp cho trẻ giao tiếp với những người xung quanh và xây dựng ngôn ngữ ngày một hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, không phải hình ảnh nào cũng hữu ích mà không ít những hình ảnh sẽ tạo ra những hiệu ứng không tốt cho trẻ. Chính vì thế, những hành động mang tính làm gương của bố mẹ hay làm mẫu cho trẻ bắt chước theo là rất cần thiết. Bên cạnh đó, việc cho trẻ xem chính những hình ảnh của trẻ trong các sinh hoạt hằng ngày và hình ảnh diễn tả cảm xúc ( Hình bé khóc, cười, giận, hờn, lo lắng … ) sẽ giúp trẻ nhận ra được những cảm xúc để có thể biết cách diễn tả, từ đó đi đến việc làm chủ cảm xúc.
Chúng ta hãy cho trẻ xem các ảnh chụp và phụ đề dùm cho bé: Này, hình con đang uống sữa này, sữa ngon quá  “ – À ! con đang khóc nè, ui hai má tèm lem nước mắt nước mũi , tức cười quá !” “ con có vẻ lo lắng quá, con lo cái gì vậy ?” Chúng ta không nhất thiết buộc trẻ phải trả lời, mà chỉ cần trẻ hiểu được câu nói của mình là đủ.
Việc cho trẻ ra ngoài chơi nơi công viên, nhà sách, siêu thị cũng là một biện pháp hiệu quả giúp trẻ phát triển trí nhớ hình ảnh để làm cho vốn từ ngữ của mình ngày một phong phú hơn. Điều này đòi hỏi bố mẹ cần có kinh nghiệm để ứng xử với những hành vi kém thích nghi như : Không biết kìm chế, tự tiện lấy những món hàng bầy bán, đòi hỏi bố mẹ phải mua cho mình những món ưa thích nếu không thì sẽ ăn vạ… Đây cũng là một yêu cầu trong việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhỏ.
2. Các hành vi ứng xử thích hợp/ không thích hợp
Trong đa số gia đình, trẻ hầu như được bảo vệ và chăm sóc theo  nguyên tắc là phụ thuộc và nuông chiều. Các bậc cha mẹ thường cho trẻ ăn những món mà họ cho rằng rất bổ dưỡng cho trẻ, cho trẻ mặc những y phục mà theo họ là thích hợp, và buộc trẻ phải có những hành vi ứng xử mà họ nghĩ rằng đó là sự vâng lời.
Tất cả những điều đó sẽ là tốt đẹp nếu nó ở một chừng mực nào đó, nếu vẫn có những lĩnh vực và không gian cho phép trẻ có cơ hội để bộc lộ những sở thích cá nhân, những hành vi tự chủ. Nhưng nó sẽ là một bi kịch vì sẽ dẫn đến những xung đột trong việc giao tiếp, tạo cho trẻ những nhận thức và hành vi không phù hợp khi trẻ bắt đầu tiếp xúc, hình thành các khả năng giao tiếp với xã hội bên ngoài, nếu như trẻ phải tiếp nhận những sự bắt buộc. Ngược lại là một sự nuông chiều, trẻ được chấp nhận mọi yêu cầu vô điều kiện với suy nghĩ đơn giản là trẻ nhỏ chưa biết gì, chiều nó một chút cũng không sao, nhưng điều đó sẽ tạo nên những hành vi và nhận thức sai lệch của trẻ mà lâu dần sẽ biến thành thói quen rất khó thay đổi !
Vì vậy ngay từ nhỏ trẻ cũng cần phải biết những hạn chế về không gian và thời gian, trong nhà có những chỗ không thể chơi đùa, và dĩ nhiên là phải có chỗ được chơi tự do. Trong việc ăn uống, vui chơi cũng có những mốc thời gian, sẽ có những khoản thời gian nhất định cho việc ăn uống chơi đùa và học tập. Trẻ cũng cần có một cái lịch hoạt động cho các công việc của mình từ sáng đến chiều để có được sự ổn định và hình thành tư duy logic – biết cái gì xảy ra trước, cái gì sẽ đến để có được những chuẩn bị và đáp ứng thích hợp.
Đối với người lớn, trẻ cần được tập cho những lời nói lễ phép và tự nhiên, không quá màu mè và hình thức nhưng cũng không được phép cộc lốc và xuồng sã – Điều này trẻ sẽ học được một cách hiệu quả thông qua cách giao tiếp và ứng xử của bố mẹ với người khác. Chúng ta sẽ không thể cấm trẻ nói năng thô lỗ nếu chính bố mẹ thích “xả rác bằng miệng” và cũng không thể buộc trẻ lễ phép khi bố mẹ không có những hành vi lịch sự tối thiểu.
Ngoài bố mẹ, trẻ có thể bắt chước các hành vi và ngôn ngữ không thích hợp ở họ hàng, những người giúp việc hay thậm chí cả những người hàng xóm nếu gia đình sống trong một khu phố lao động, trẻ em thường xuyên tiếp xúc với nhiều hạng người khác nhau. Vì thế, chúng ta cũng cần lưu ý đến những nguồn có khả năng gây “ô nhiễm” cho lời nói và hành động của trẻ, mà nhiều khi rất nặng nề nếu như không được ngăn ngừa và phát hiện sớm.
3. Biện pháp giáo dục và tác động:
Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng  thực hành . Những lời dạy dỗ sáo rỗng không đem lại kết quả tốt mà còn phản tác dụng, khi trẻ em được chứng kiến những cảnh: nói vậy mà không phải vậy – vì chắc chắn trẻ sẽ nhìn vào hành động của người lớn chứ không nghe theo những gì mà người lớn dạy bảo, trừ khi có những hành động minh chứng cho sự dạy dỗ đó.
Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quá lo lắng cho rằng mình phải là một bậc cha mẹ mẫu mực thì mới có thể dạy con ứng xử hay mới có thể là một tấm gương cho con noi theo. Chúng ta cũng có những khó khăn và hạn chế về năng lực và tính cách. Nhưng điều quan trọng là chúng ta không nên che đậy, dấu diếm hay đóng kịch trước mặt trẻ. Các em sẽ nhận ra điều này và sẽ không còn tin cậy vào chúng ta nữa, đó mới là điều nguy hiểm nhất.
Chúng ta hãy giáo dục con bằng cả tấm lòng với sự trung thực, đôi khi ngay cả với những ứng xử và ngôn ngữ vụng về của bố mẹ lại có những tác động mạnh mẽ đến đứa con hơn là những hành vi và lời nói hoa mỹ “đúng chuẩn quốc tế” . Ở một góc độ khác, với trẻ nhỏ chúng ta nên tránh hay hạn chế tối đa những câu nói bóng gió, những câu có ý nghĩa ẩn dụ ngược lại. Nếu chúng ta không muốn trẻ đi ra ngoài sân thì hãy nói thẳng : “ Mẹ không muốn con ra ngoài sân lúc này” hơn là : “ Ừ có giỏi thì cứ đi đi” trẻ sẽ hoang mang trước câu nói và thái độ của chúng ta lúc đó, và sẽ dần dần không muốn giao tiếp với bố mẹ nữa vì bé không hiểu là mẹ muốn gì !
Ngoài ra, với trẻ nhỏ thì phạm vi giao tiếp còn rất hạn chế cũng như đơn giản, thông thường trẻ chỉ tiếp xúc với những người trong gia đình và nếu có với người lạ thì cũng có bố mẹ ở bên cạnh để “đỡ đòn” vì thế cũng không nhất thiết phải dạy trẻ quá nhiều thứ . Nhưng một trong những điều mà trẻ cần phải học và nhận biết một cách đầy đủ, đó là tính tôn trọng – Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau : 
- Biết nói lời xin lỗi, biết nói cám ơn.
- Không cướp lời, nói leo khi người khác nói.
- Không tự tiện lấy và sử dụng đồ dùng của người khác.
Và cả ba khía cạnh này sẽ được trẻ học rất tốt qua sự làm gương của bố mẹ, khi chúng ta biết cám ơn và xin lỗi những người mà chúng ta tiếp xúc trên đường phố, hay trong sự va quẹt khi giao thông, cũng như ở ngay ở trong gia đình khi chính bố mẹ không tự tiện lục  cặp của trẻ, không tự tiện lấy những món đồ của trẻ hay của người khác để sử dụng cho riêng mình thì chắc chăn việc chúng ta dạy các em những ngôn ngữ giao tiếp này rất dễ dàng.
III. KỸ NĂNG GIAO TIẾP GIỮA TRẺ VỚI TRẺ
Nếu chúng ta quan sát một nhóm trẻ chơi trong các lớp mẫu giáo, thì sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh những nhóm trẻ chơi với một loại công cụ hay những món đồ chơi nào đó nhưng hầu như chúng không có sự phối hợp với nhau. Nói cách khác, trẻ chưa có khả năng cùng chơi với nhau hay biết phối hợp để chơi. Trẻ chơi theo khả năng nhận thức và tư duy của bản thân và điều này mang tính cá nhân, không trẻ nào giống trẻ nào.
1. Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhỏ
Vì vậy, trong chương trình giáo dục Mẫu giáo, thì các trò chơi chung và những hoạt động như đóng kịch ( theo các câu chuyện kể ) và chơi các trò chơi sắm vai chính là để tập cho trẻ phát triển các kỹ năng giao tiếp xã hội.
Trong phạm vi gia đình thì chúng ta nên thường xuyên dẫn trẻ đi chơi ngoài công viên, tạo điều kiện cho trẻ mời bạn bè về nhà cùng chơi với nhau dưới sự sắp xếp và gợi ý của bố mẹ là những biện pháp giúp trẻ phát triển các kỹ năng giao tiếp với bạn bè của các em.
Để giúp trẻ phát triển kỹ năng chơi với các trẻ khác, chính chúng ta nên chơi với trẻ và tập cho các bé những cách chơi mang tính lần lượt, thay phiên nhau : Mẹ vẽ một vòng, bé vẽ một vòng – mẹ xếp một khối gỗ, bé xếp một khối khác lên… hay chơi những trò chơi buôn bán, mẹ là người mua hàng, bé là người bán hàng … Khi trẻ đã quen những trò chơi cùng nhau như thế, thì khi đến lớp sẽ dễ dàng tham gia các hoạt động cùng với các bạn hơn.
2. Giúp trẻ những ứng xử thích hợp:
Tính cách mỗi trẻ mỗi khác, có những trẻ hoạt bát linh động nhưng cũng có những trẻ chậm chạp, thụ động hoặc quá nóng nảy, hiếu động… Vì thế, chúng ta cần phải biết rõ tính cách của con em mình để có thể cho các chơi với những người bạn thích hợp với cá tính hầu tránh xẩy ra những va chạm về tính cách.
Nhưng trong các trường hợp nếu có xảy ra các va chạm thì chúng ta cũng không nên vì lòng thương con mà trở nên thiếu khách quan, có những ứng xử thiên lệch, bao che cho con mình, vì điều đó tuy giúp cho các em có những kết quả nhất thời nhưng sẽ để lại những hậu quả tai hại về sau trong sự phát triển nhân cách của trẻ. Khi hai trẻ cùng gây gổ, thì chúng ta nên tách các em ra và phê bình hành vi của các em như “ôi, giàng nhau đồ chơi là không tốt đâu, mẹ không thích chút nào” chứ không phê bình bản thân đứa trẻ : Con tệ quá, sao lại giành đồ chơi của bạn như thế ?” hay có phản ứng tệ hơn : “ Thôi, đừng thèm chơi với bạn đó nữa, về nhà mẹ cho đồ chơi đẹp hơn”.
Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng nền tảng để giúp trẻ nhận biết các giá trị sống và hình thành các kỹ năng sống - Vì thế cần được quan tâm và giúp trẻ phát triển một cách tiệm tiến - từng bước một trong suốt chiều dài phát triển nhân cách của trẻ.

80 video học tiếng anh hiệu quả cho người mới bắt đầu


80 VIDEO HỌC TIẾNG ANH HIỆU QUẢ CHO NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU

Hôm nay Trung tâm tiếng anh trẻ em SMART KIDS CENTRE giới thiệu loạt 80 bài học tiếng Anh qua video trên truyền hình Mỹ đã được rất nhiều người học tiếng Anh ở Việt Nam biết đến và đánh giá hữu ích.

80 bài học này chia làm 3 cấp độ. Mỗi bài học có nhiều phần luyện tập gồm: học từ vựng , ngữ pháp tiếng anh, luyện đọc, luyện phát âm, đàm thoại, tình huống mở rộng.

Đây là các bài học:


Hướng dẫn: Vào địa chỉ trên nhấn Play để học. Nhấn biểu tượng được đánh dấu trên hình để hiển thị danh sách các bài học và lựa chọn bài học để xem.   

Trung tâm tiếng anh trẻ em SMART KIDS CENTRE chúc bạn những giây phút học tiếng anh qua video thật thoải mái

Danh sách các bài học:

EFU - ENGLISH FOR BEGINNER LEVELS 

Teacher: Molly STONE
Lesson 01 - Nice to meet you!
Lesson 02 - How are you?
Lesson 03 - What does she look like?
Lesson 04 - Where are you from?
Lesson 05 - Do you speak English?
Lesson 06 - My family.
Lesson 07 - These are my relatives.
Lesson 08 - What do you do?
Lesson 09 - Where do you work?
Lesson 10 - What time is it?
Lesson 11 - What day is it?
Lesson 12 - How is the weather?
Lesson 13 - What are you wearing?
Lesson 14 - The Body
Lesson 15 - Whats the matter?
Lesson 16 - Home sweet home
Lesson 17 - Tell me about your furniture
Lesson 18 - Im hungry!
Lesson 19 - What sports can you play?
Lesson 20 - What did you do yesterday?
Lesson 21 - What are you going to do?
Lesson 22 - Would you like to go...?
Lesson 23 - My Vacation
Lesson 24 - How do you travel?
Lesson 25 - How do you get there?
Lesson 26 - Ask me a question
Lesson 27 - I dont know
Lesson 28 - Review I (Lessons 1 to 9)
Lesson 29 - Review II (Lessons 10 to 18)
Lesson 30 - Review III (Lessons 19 to 27)

EFU - ENGLISH FOR ELEMENTARY LEVELS 
Teacher: Nicole JONES
Lesson 01 - Welcome
Lesson 02 - Special days
Lesson 03 - Entertaining
Lesson 04 - At school
Lesson 05 - Location
Lesson 06 - Shopping
Lesson 07 - Did you buy this for me?
Lesson 08 - Activities
Lesson 09 - Listen to the music
Lesson 10 - Whats for dinner?
Lesson 11 - He is taller than I am
Lesson 12 - What is the tallest mountain?
Lesson 13 - At home
Lesson 14 - At the station
Lesson 15 - Do this
Lesson 16 - Past experiences
Lesson 17 - Future life
Lesson 18 - I wish upon a star
Lesson 19 - World knowledge
Lesson 20 - Getting around
Lesson 21 - Social Groups
Lesson 22 - Dining out
Lesson 23 - What are your job skills?
Lesson 24 - Talking on the phone
Lesson 25 - The Art
Lesson 26 - Transportation
Lesson 27 - Celebrations
Lesson 28 - Review I (Lessons 1 to 9)
Lesson 29 - Review II (Lessons 10 to 18)
Lesson 30 - Review III (Lessons 19 to 27)

EFU - ENGLISH FOR INTERMEDIATE LEVELS
Teacher: Christopher OCONNELL
Lesson 01 - Horror Films
Lesson 02 - Rock N Roll
Lesson 03 - Space
Lesson 04 - On the farm
Lesson 05 - At the hospital
Lesson 06 - At the circus
Lesson 07 - At the beach
Lesson 08 - Crime doesn t pay
Lesson 09 - At the a musement park
Lesson 10 - At the grocey store
Lesson 11 - At the playground
Lesson 12 - Under the weather
Lesson 13 - At the hotel
Lesson 14 - Fairy Tales & Legends
Lesson 15 - Christmas time
Lesson 16 - In the workshop
Lesson 17 - At the camp
Lesson 18 - At the doctors
Lesson 19 - Review 1 Lessons
Lesson 20 - Review 2 Lessons